Trang nội bộ
    Tên đăng nhập
   Mật khẩu
      
Thống kê
Đang trực tuyến:224
Lượt truy cập:893200
Quảng cáo



       Nghiên cứu trao đổi
Tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam  CẬP NHẬP: 16:09:34   (18/07/2012)
Nhìn lại hơn hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân khoảng 6,7%/năm, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
 

Giai đoạn 1986-1990, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 4,4%/năm, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và giải phóng sức sản xuất.

Giai đoạn 1991-1995, nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8,2%, đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.

Giai đoạn 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, mặc dù chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm.

Giai đoạn 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,2%/năm, GDP theo giá hiện hành đạt 838 nghìn tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người/năm đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD.

Giai đoạn 2005-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 7,33%, dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng Việt Nam vẫn thu hút vốn đầu tư nước ngoài cao, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.168 USD.

Năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế là 5,89%; giảm sút chủ yếu do giảm sút của khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.

Tình hình tăng trường của Việt Nam giai đoạn 1990-2011

Diễn biến lạm phát trong thời gian này phức tạp hơn; từ năm 1986 - 2011, 2 năm lạm phát giảm sút (2000 và 2001); 7 năm lạm phát 1 chữ số; 14 năm lạm phát 2 chữ số, 3 năm lạm phát tăng 3 chữ số.

Giai đoạn 1986-1991: lạm phát phi mã, là những năm đổi mới 1986-1988, lạm phát ở mức 03 con số; nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế bị khủng hoảng, tăng trưởng thấp, làm cho thị trường bị thiếu cung, tiền nhiều hơn hàng.

Giai đoạn 1992-1995: lạm phát còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với thời kỳ trước; nguyên nhân chủ yếu do cung đã tăng, lương thực vượt nhu cầu trong nước, xuất khẩu với khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra phương châm: ngân sách thì thu lấy mà chi; ngân hàng thì vay lấy mà cho vay, có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt.

Giai đoạn 1996-2003: được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp; mặc dù năm 1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực. Nhìn chung, cả thời kỳ này có 3 năm, trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp.

Giai đoạn 2004-2010: là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn: năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, thì năm 2006 chỉ tăng 6,6%; năm 2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng 19,89%, năm 2009 chỉ tăng 6,52%; đến năm 2010 tăng 11,75%; năm 2011, tỷ lệ lạm phát 18,13%.

 Như vậy, từ năm 2007 đến nay, lạm phát có chiều hướng mất ổn định hơn và biểu hiện tính chu kì. Chu kì này vào khoảng 3 năm khi tỷ lệ lạm phát đã lên đến đỉnh điểm vào tháng 8/2008 (28,23%) và tháng 8/2011 (23,02%).

 

Diễn biến lạm phát Việt Nam giai đoạn 1990-2011

Như vậy, trong 26 năm đổi mới và mở cửa kinh tế, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình của Việt Nam trên 20%, là nhân tố quan trọng giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng một thời gian dài đạt mức trung bình gần 7%/năm. Việt Nam đang ở giai đoạn nước rút nhằm tạo lập vốn cho nền kinh tế với tốc độ đầu tư không ngừng tăng lên. Nếu năm 1990, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế trong GDP là 12,6%/năm, thì năm 1995 đạt 27,1% GDP, năm 2000 đạt 29,6% GDP, năm 2005 đạt 35,6% GDP và năm 2007 đạt kỷ lục  41,7% GDP; tốc độ tăng trưởng nhập khẩu hàng năm duy trì ở mức cao, trung bình đạt 19,2%. Thâm hụt thương mại trong giai đoạn trước 2007 chủ yếu được bù đắp bởi thặng dư hạng mục vốn trên cán cân thanh toán quốc tế nhờ tăng trưởng đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Năm 2010, thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam ước tính là 12,4 tỉ USD thấp hơn nhiều so với mức thâm hụt thương mại hơn 14 tỉ USD của năm 2007 và 2008, tốc độ tăng trưởng giải ngân vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài giảm mạnh dưới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc suy giảm và thâm hụt cán cân tổng thể trong giai đoạn từ 2008 - 2010. Dự trữ ngoại hối chính thức giảm mạnh dưới tác động của thâm hụt cán cân tổng thể gây áp lực trực tiếp lên phá giá tiền đồng và gây nên tác động tăng giá kép ở Việt Nam.

Nhìn lại năm 2011, tỷ lệ lạm phát là 18,13%. Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học thế giới, năm 2011 Việt Nam đã vượt ngưỡng lạm phát và sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Trong báo cáo Quốc hội khóa XIII (kỳ họp thứ 2), Chính phủ đã khẳng định: “Nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát cao ở nước ta là do hệ quả của việc nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa kéo dài trong nhiều năm để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, và phúc lợi xã hội trong khi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn kém hiệu quả, cùng những hạn chế trong quản lý điều hành và tác động cộng hưởng của các yếu tố tâm lý”. Và đã đưa ra mục tiêu: "Kiềm chế lạm phát là ưu tiên số một, khi có điều kiện thuận lợi sẽ phấn đấu để đạt mức tăng trưởng cao hơn" trong mục tiêu của năm 2012 và kế hoạch 5 năm 2011 - 2015.

Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế. Trong thời gian gần đây, sự bất ổn của kinh tế thế giới sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng và gia tăng lạm phát ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Ở nhiều quốc gia để có được mức tăng trưởng cao phải đánh đổi với mức lạm phát cao. Liệu Việt Nam có cần đánh đổi như vậy không ? Để trả lời câu hỏi đó, cần nghiên cứu một cách sâu sắc sự tác động qua lại giữa tăng trưởng và lạm phát, từ đó tìm ra biện phát nhằm ổn định lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững cho Việt Nam.

Theo lý thuyết Keynes: trong ngắn hạn sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng; nghĩa là, muốn cho tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định; trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều; sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm (đường cong Phillips nổi tiếng về sự đánh đổi giữa mục tiêu lạm phát và thất nghiệp); mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát mang dấu dương.

Theo chủ nghĩa trọng tiền (đại diện là Milton Fredman): lạm phát là sản phẩm của việc tăng cung tiền hoặc tăng hệ số tạo tiền ở mức lớn hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế; nghĩa là, trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng; nếu cung tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra; nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát.

Theo lý thuyết tân cổ điển Mundell (1965) và Tobin (1965): lạm phát là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ tiền mà chuyển thành các tài sản sinh lời; theo mô hình này giữa lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ tỉ lệ thuận. Bổ sung thêm cho mô hình của lý thuyết tân cổ điển, nhà kinh tế học Sidrauski (1967) có quan điểm khi các biến số độc lập với việc tăng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Mô hình của Stockman (1981) thì cho rằng lạm phát tăng cao sẽ làm cho tăng trưởng giảm…

Tuy quan điểm về lý thuyết và mô hình minh chứng cho mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát của các trường phái có sự khác nhau, nhưng điểm chung của các trường phái là mối quan hệ ấy không phải một chiều, mà là sự tác động qua lại; nếu muốn tăng trưởng cao thì phải chấp nhận lạm phát, mối quan hệ này không tồn tại mãi và đến một lúc nào đó, nếu lạm phát tiếp tục tăng cao sẽ làm giảm tăng trưởng; trong dài hạn, khi tăng trưởng đã đạt đến mức tối ưu thì lạm phát không tác động đến tăng trưởng nữa mà lúc này lạm phát là hậu quả của việc tăng cung tiền quá mức vào nền kinh tế.

Nghiên cứu ban đầu (những năm 1960) không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa hệ thống. Nghiên cứu giai đoạn sau khủng khoảng dầu hoả (năm 1973-1974) của Fischer (1993), Barro (1996), Bruno và Easterly (1998) đã tìm thấy quan hệ âm giữa lạm phát và tăng trưởng. Nghiên cứu gần đây, Khan và Senhadji (2001) cũng đã tìm thấy mối quan hệ tăng trưởng - lạm phát mang dấu âm khi: tỉ lệ lạm phát vượt qua ngưỡng và mang dấu dương trong trường hợp còn lại.

Nối tiếp các kết quả trên, rất nhiều nhà nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau đã công bố ảnh hưởng qua lại giữa tăng trưởng và lạm phát: Mallik và Chowdhury (2001) sử dụng hồi quy đồng liên kết và mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM); Faria and Carneiro (2001) cũng sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị ADF (xác định tính dừng của chuỗi dữ liệu khi phân tích chuỗi dữ liệu theo thời gian) và phương pháp phân tích phương sai dựa trên mô hình VAR…cho thấy: lạm phát không ảnh hưởng đến sản lượng thực tế trong dài hạn, tuy nhiên trong ngắn hạn thì sự ảnh hưởng của lạm phát đến sản lượng thực tế lại mang dấu âm.

Nước Mỹ trong thời gian khá dài đã thực thi chính sách “hy sinh” mục tiêu tăng trưởng cho mục tiêu kiềm chế lạm phát. Sau hơn 10 năm tăng trưởng liên tục khi kinh tế Mỹ bước vào chu kỳ suy thoái, nước Mỹ đã chuyển sang thực thi chính sách “hy sinh” mục tiêu kiềm chế lạm phát cho mục tiêu tăng trưởng, mà biểu hiện rõ nhất là chỉ trong một năm đã liên tục 12 lần cắt giảm lãi suất từ 6,7% xuống chỉ còn 1%. Khi tăng trưởng kinh tế phục hồi và lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại, nước Mỹ lại thực thi chính sách “hy sinh” mục tiêu tăng trưởng cho mục tiêu chống lạm phát với một trong những giải pháp cụ thể đã thực hiện là chỉ từ tháng 7/2004 đến nay đã tám lần liên tục nâng lãi suất từ 1% lên 3% và dự đoán của nhiều chuyên gia, lãi suất của Mỹ sẽ còn tăng lên nữa, có thể đạt trên 4,5%.

Trung Quốc sau 26 năm tăng trưởng liên tục với tốc độ cao (hiện giữ kỷ lục về thời gian tăng trưởng liên tục mà trước đó Hàn Quốc đã giữ với 23 năm), cũng đã muốn hạ bớt tốc độ tăng trưởng nóng và kiềm chế lạm phát, bằng việc giảm đầu tư sau mấy năm ở mức cao nhất thế giới (trên 44% so với GDP)…

Từ những quan điểm của các nhà khoa học và từ kinh nghiệm của các nước tiên tiến, qua nghiên cứu đánh giá, tổng kết thực tiễn, chúng tôi thấy rằng:

Nếu sử dụng Phương pháp hồi quy đồng liên kết, Mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và Phương pháp phân tích phương sai (Mô hình VAR) phân tích chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tổng thu nhập quốc nội (GDP) (số liệu do Tổng cục Thống kê Việt Nam công bố), theo công thức:

M.V = P.Y (phương trình Fisher); trong đó: M là cung tiền; V là hệ số tạo tiền; P là giá; Y là sản lượng đầu ra (GDP)

It = Ln(CPIt) - Ln(CPIt-1) và Gt = Ln(GDPt) - Ln(GDPt-1); trong đó: It và Gt là tỉ lệ tăng trưởng, lạm phát tại thời điểm t; Ln(CPIt), Ln(GDPt) và Ln(CPIt-1), Ln(GDPt-1) là logarit cơ số tự nhiên của các biến tại các thời điểm t và t-1.

Cho thấy: giai đoạn từ 1987 - 2007: hệ số tương quan giữa tốc độ tăng trưởng (G) và tỷ lệ lạm phát (I) tính được là -0,42; điều này có nghĩa là khi lạm phát tăng 1% sẽ đẩy tăng trưởng kinh tế chậm lại 0,42% và ngược lại.

Giai đoạn từ 1995-2008: hệ số tương quan giữa G và I tính được là 0,58; kiểm định dựa trên tiêu chuẩn kiểm định Augmented Dickey - Fuller (ADF), thì G và I là đồng liên kết với hệ số đồng liên kết (ø1); kiểm định đồng liên kết (Johansen Cointergration Test), dựa trên 2 tiêu chuẩn kiểm định giá trị riêng cực đại của ma trận (maximal eigenvalue) và kiểm định vết ma trận (Trace) cũng khẳng định đồng liên kết giữa G và I với số vector đồng liên kết là 2.

Phương pháp phân tích phương sai (dựa trên Mô hình VAR): 33,27% sự biến động của tăng trưởng (∆G) được giải thích bởi sự biến động của lạm phát (∆I), 66,73% được giải thích bởi bản thân sự biến động của tăng trưởng trong quá khứ và 76,83% sự biến động của lạm phát được giải thích bởi sự biến động của tăng trưởng, 23,17% được giải thích bởi sự biến động của lạm phát trong các thời điểm trước đó. Điều này cho thấy, trong ngắn hạn, sự thay đổi lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng nhiều hơn sự ảnh hưởng trở lại của tăng trưởng đến lạm phát; như vậy, lạm phát còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác, đặc biệt là những biến động trong ngắn hạn (như các cú sốc cung, sốc cầu…). 

Từ đó, theo chúng tôi: mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam (trong dài hạn và ngắn hạn) về cơ bản thống nhất với lý thuyết và kết quả kiểm nghiệm trên thế giới của Tobin (1965), Mallik và Chowdhury (2001), Frria và Carneiro (2001) đã công bố. Có thể khẳng định: mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát của nền kinh tế Việt Nam tuân theo quy luật chung.

Còn mức lạm phát tối ưu ở Việt Nam, phân tích số liệu lạm phát từ năm 1990 – 2011) thấy: có 6 năm có mức lạm phát >13-14% và khi mức lạm phát >13-14%/năm thì lạm phát tác động tiêu cực tới tăng trưởng (kết quả phù hợp với nghiên cứu của Li năm 2006, số liệu cho 90 nước đang phát triển). Có 15 năm lạm phát <13% và khi CPI <13%/năm thì 86,6% trong số 15 năm cho biết lạm phát tác động tích cực ở mức vừa phải tới tăng trưởng.

Trong 15 năm, có 10 năm lạm phát xoay quanh mức từ 5% và nhỏ hơn 13%/năm; khi 5 ≥ CPI <13%/năm thì lạm phát tác động tích cực tới tăng trưởng. Phân tích mức độ lạm phát trong 10 năm (5 ≥ CPI <13%/năm): có 3 năm lạm phát xoay quanh ngưỡng 13%/năm, những năm này, tăng trưởng bình quân khoảng 8,26%/năm, đây là các năm có mức tăng trưởng nóng, sau đó đều rơi vào thời kỳ bị ảnh hưởng khủng hoảng Châu Á và khủng hoảng toàn cầu. Có 3 năm lạm phát xoay quanh ngưỡng 8-9%/năm,  những năm này tăng trưởng bình quân khoảng 7,33%/năm. Có 4 năm lạm phát xoay quanh ngưỡng 5 - 6%/năm, những năm này, tăng trưởng bình quân 7,74%/năm.

Tóm lại, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần chấp nhận đánh đổi giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế, nghĩa là “hy sinh” mục tiêu tăng trưởng cho mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm được tăng trưởng ở mức hợp lý, khi có điều kiện thuận lợi phấn đấu đạt mức tăng trưởng có hơn. Đây là một quyết định khó khăn, nhưng lạm phát hiện tại đã đạt mức độ tiêu cực và ưu tiên hàng đầu kiềm chế lạm phát là cần thiết và điều này phù hợp với quan điểm, chủ trương của Chính phủ: "kiềm chế lạm phát là ưu tiên số một, khi có điều kiện thuận lợi sẽ phấn đấu để đạt mức tăng trưởng cao hơn" trong mục tiêu của năm 2012 và kế hoạch 5 năm 2011 - 2015.

Mức lạm phát ở Việt Nam từ 13-14%/năm là cao, sẽ gây tâm lý hoang mang, thu nhập không tăng kịp với tốc độ giá, làm thu nhập thực của người dân giảm… Mức lạm phát khoảng 3,6%/năm (nhận định của IMF và Khan), tuy mức lạm phát < 5%/năm ảnh hưởng mạnh tích cực đến tăng trưởng, nhưng mức này rất khó thực hiện trong bối cảnh hiện nay; mặc khác nếu ở mức lạm phát khoảng 3,6%/năm, thì môi trường đầu tư của Việt Nam không thể năng động được, chưa nói nền kinh tế có thể rơi vào trạng thái thiểu phát, thiếu tiền mặt trong lưu thông, thì thiểu phát cũng không kém phần nguy hiểm so với lạm phát. Theo chúng tôi, trong tình hình hiện nay lạm phát tối ưu cho Việt Nam khoảng 6%/năm là phù hợp; theo phân tích trên: xác xuất xảy ra mức lạm phát 5-6% ở Việt Nam cao hơn mức lạm phát 13-14%/năm; mặc dù ở mức lạm phát 5-6% thấp chỉ bằng 50% mức lạm phát 13-14%/năm, nhưng tốc độ tăng trưởng trong những năm này cũng đạt khoảng 8% (tương tự những năm xảy ra lạm phát hai chữ số). Nếu lạm phát ở dưới mức này để tăng tốc độ tăng trưởng, Chính phủ có thể thực hiện các giải pháp để tăng lạm phát và việc tăng lạm phát cho đến ngưỡng 6%/năm không quá nguy hại đến nền kinh tế. Còn nếu lạm phát đang ở ngưỡng 6% năm, để tăng trưởng kinh tế, Chính phủ lại phải điều tiết giảm lạm phát.

Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 13, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Mục tiêu tổng quát của năm 2012 là ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Chỉ tiêu lạm phát năm 2012, phấn đấu kiềm chế lạm phát dưới 10%, các năm sau thấp hơn, đến năm 2015 lạm phát khoảng 5-7%. Chỉ tiêu tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 tăng GDP khoảng 6-6,5% (trong giai đoạn 5 năm 2011-2015, tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,5-7%, phấn đấu đạt 7%); bội chi ngân sách nhà nước bằng 4,8% GDP, các năm sau giảm dần để đến năm 2015 giảm xuống còn 4,5%; đến năm 2015, nợ công khoảng 60-65% GDP; tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 dự kiến tăng khoảng 12-13% so với năm 2011; nhập siêu 11,5-12% tổng kim ngạch xuất khẩu (phấn đấu đến năm 2015, nhập siêu khoảng 10%); tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2012 bằng khoảng 33,5-34% GDP, bình quân 5 năm 33,5-35% GDP.

Đồng thời, đưa 7 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu: năm 2012, nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất vẫn là tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, phấn đấu giảm bội chi ngân sách và phải xác định là nền tảng quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ trong cả giai đoạn 2011-2015. Trong năm 2012 và các năm tới, ưu tiên nguồn lực thực hiện ba đột phá chiến lược và tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh; năm 2012 cần tập trung vào 3 lĩnh vực trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư, trước hết là đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty; tái cơ cấu hệ thống tài chính tiền tệ, trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và các định chế tài chính;

Các giải pháp liên quan đến chính sách tiền tệ, trong thời gian tới sẽ kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống ngân hàng thương mại; thiết lập trật tự kỷ cương trong việc sử dụng ngoại tệ; quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng và ngoại hối. Tiếp tục đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá và sắp xếp lại các DNNN; rà soát đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty; kiên quyết thực hiện thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần chi phối; thực hiện công khai kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Ba nội dung tái cấu trúc phải được thực hiện đồng bộ với các chính sách tài khóa tiền tệ đúng đắn cùng với việc thực hiện 3 khâu đột phá: tạo lập mới môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; phát triển nhanh nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ và tăng cường bảo vệ, cải thiện môi trường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường công tác phòng chống tham nhũng…

Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Chính phủ đưa ra trong khi chúng ta đang siết chặt tín dụng, thực hiện một loạt chính sách tài chính, thực sự là thách thức lớn đối với Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả đạt được cuối năm 2011, nhất là 6 tháng đầu năm 2012, đã cho thấy kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu khởi sắc và bắt đầu có tăng trưởng vững chắc. CPI trong 6 tháng đầu năm 2012 đã ở mức thấp, nếu không có biến cố gì xảy ra thì CPI cả năm chỉ ở mức 7-8% và sang năm tới còn có thể xuống nữa. Về tăng trưởng chúng ta khả năng duy trì được ở mức 6%, đem lại niềm tin về sự ổn định kinh tế vĩ mô. Chỉ số tồn kho có xu hướng giảm dần, từ 34,9% trong tháng 3 giảm xuống lần lượt là 32,1% và 29,4% trong tháng 4 và tháng 5, đến tháng 6 giảm xuống 26% so với cùng thời điểm năm trước. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển tương đối ổn định. Giá trị sản xuất toàn ngành ước tăng 3,8%, trong đó nông nghiệp tăng 3%, lâm nghiệp tăng 5,7%, thủy sản tăng 5,8%. Khu vực dịch vụ tiếp tục phát triển khá. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2012 ước tăng 19,5% so với cùng kỳ năm 2011. Hoạt động du lịch tiếp tục diễn ra sôi động, 6 tháng đầu năm 2012, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ước trên 3,36 triệu lượt, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2011. Trong 6 tháng đầu năm 2012, đã giải quyết việc làm cho khoảng 735.000 lao động, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2011, đạt 45,9% chỉ tiêu kế hoạch năm.

Dấu hiệu phục hồi còn được biểu hiện các góc độ khác nhau, như: tăng trưởng GDP của quý II với tốc độ cao hơn quý I (4,66% so với 4%); nhóm ngành công nghiệp - xây dựng tăng 4,52% so với 2,94% và nhóm ngành dịch vụ tăng 5,83% so với 5,31%); ngành công nghiệp nếu quý I tăng 4,03% thì quý II đã tăng cao hơn, nên tính chung 6 tháng đã tăng 4,76%, trong đó ngành lớn nhất là công nghiệp chế biến tăng 3,85% so với tăng 3,04%; lãi suất huy động đã giảm nhanh từ 14% xuống còn 9%; nhập siêu giảm về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỷ lệ nhập siêu, đã góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoái hối, ổn định tỷ giá (6 tháng đã giảm 0,8%); giá vàng giảm (6 tháng giảm 7,51%).

Lạm phát đã được kiềm chế, kinh tế vĩ mô bước đầu được ổn định, tăng trưởng kinh tế đã có dấu hiệu thoát đáy vượt dốc đi lên. Đạt được kết quả trên do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân quan trọng về mặt điều hành. Mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát đã được đề ra sớm, việc thực hiện đã kiên trì, nhất quán và quyết liệt. Khi lạm phát đã được kiềm chế, Chính phủ đã liên tục yêu cầu giảm lãi suất và đã ban hành Nghị quyết 13 về những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, hỗ trợ thị trường, vừa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng  hợp lý, vừa phù hợp với nguồn lực, vừa phù hợp với việc khẩu trương đẩy mạnh cơ cấu lại, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, vừa tránh được việc lặp lại lạm phát cao (hai năm tăng cao, một năm tăng thấp hơn) trong 8 năm qua.

Từ phân tích trên cho thấy các giải pháp của Chính phủ đang phát huy hiệu quả, đưa kinh tế vĩ mô đang đi đúng định hướng. Để đạt các mục tiêu đề ra năm 2012 và 5 năm (2011-2015), chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, Chính phủ tiếp tục triển khai các chính sách, biện pháp trung và dài hạn nhằm chuyển đổi nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững, có tính cạnh tranh cao hơn, cơ cấu lại và thúc đẩy đầu tư xã hội, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy hội nhập quốc tế, khắc phục hạn chế, yếu kém của nền kinh tế.

Hai là, trong 6 tháng cuối năm 2012 và năm 2013, Chính phủ tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với các mặt hàng như điện, than, xăng dầu và dịch vụ công theo lộ trình phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng hợp lý; bảo đảm công khai minh bạch trong điều hành giá các mặt hàng Nhà nước định giá để tạo sự đồng thuận trong dư luận xã hội.

Ba là, cần phải khẩn trương quyết liệt thực hiện các giải pháp theo Nghị quyết 13, giải quyết 2 điểm nghẽn lớn hiện nay, đó là nợ xấu và sức mua thấp.

Đối với nợ xấu: Ngân hàng Nhà nước khẩn trương nghiên cứu, hoàn thành đề án về việc mua bán nợ xấu, xác định rõ các nguồn vốn, tổ chức và cách làm cho phù hợp với chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế, trong đó có cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại, cơ cấu lại doanh nghiệp; không nên mua lại nợ xấu thuộc nhóm không thu hồi được, nợ do yếu kém chủ quan của ngân hàng hay doanh nghiệp. Đối với sức mua thấp: hiện nay cần khẩn trương hỗ trợ mua gạo tạm trữ; hỗ trợ kiên cố hoá kênh mương, kiên cố hoá mặt đường, xây dựng các công trình để vừa thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, vừa giúp tiêu thụ các loại vật liệu xây dựng, vừa tạo cho nông dân có thu nhập, tăng sức mua...

         Bốn là, tập trung tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhằm đảm bảo ổn định và phát triển sản xuất, đặc biệt các ngành công nghiệp chế biến và các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu, như: mở rộng thị trường, khai thác tốt thị trường; theo dõi sát biến động thị trường thế giới cũng như trong nước; mở rộng, khai thông thị trường đối với các mặt hàng nông sản, thuỷ sản và các mặt hàng công nghiệp chế biến; tiếp tục thực hiện các chính sách hạn chế nhập khẩu mặt hàng không thiết yếu, hàng tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu, góp phần kiềm chế nhập siêu; cần có gói hỗ trợ để tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh (giảm lãi suất, thuế, tín dụng); có biện pháp kích cầu thị trường (tăng lương tối thiểu tăng, giảm giá một số mặt hàng...)

Năm là, nghiên cứu phương pháp tính toán lạm phát ở Việt Nam, tránh cú sốc giá, vì các cú sốc này chỉ mang tính tạm thời, ngắn hạn nhưng lại gây ra sự biến động lớn trong mức giá chung, vì thế chính sách tiền tệ nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát cũng gặp nhiều khó khăn. Theo hướng: loại bỏ ra khỏi CPI các mặt hàng mà có độ dao động hay tính bất ổn lớn nhất (bị gây ra bởi các cú sốc cung hoặc có tính mùa vụ cao), do xu hướng giá của các mặt hàng này sẽ sớm bị đảo ngược hoặc không thể lường trước và nó sẽ làm mờ đi xu hướng thật sự của lạm phát nên có thể dẫn đến sai lầm trong việc đưa ra chính sách. Các yếu tố không thể lường trước được như các cú sốc về giá dầu, thiên tai là yếu tố hỗ trợ giải thích tại sao chính sách tiền tệ không nên bù đắp lại những tác động về giá do các cú sốc tạm thời gây ra, bởi sự bù đắp tác động của chính sách tiền tệ có thể dẫn tới việc phải thay đổi chính sách thường xuyên khiến nền kinh tế không kịp thích ứng./.

 
Ths. Hà Thị Hương Lan - Giảng viên Khoa QLHCNN